Quản lý nhà nước đối với các ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số

22/09/2026
177

Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, các ngành công nghiệp văn hóa ngày càng khẳng định vị thế của một khu vực kinh tế giàu tiềm năng, có khả năng tạo ra những nguồn lực và động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế. Đặc biệt, các ngành công nghiệp văn hóa tạo thêm không gian phát triển cho doanh nghiệp Việt Nam, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, giá trị gia tăng, năng lực xây dựng thương hiệu và khả năng tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu, qua đó góp phần nâng tầm doanh nghiệp Việt Nam và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Lễ kỷ niệm 72 năm Ngày Bác Hồ về thăm Đền Hùng (19-9-1954 - 19-9-2026) và khánh thành Tượng đài “Bác Hồ với Ngày hội non sông”_Ảnh: TTXVN

Quyết định số 2486/QĐ-TTg, ngày 14-11-2025, phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Chiến lược) xác định 10 ngành công nghiệp văn hóa chủ chốt(1). Chiến lược này và Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị, về phát triển văn hóa Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030: Các ngành công nghiệp văn hóa đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm và đóng góp 7% GDP của đất nước; lực lượng lao động bình quân tăng 10%/năm, chiếm tỷ trọng 6% trong tổng lực lượng lao động của nền kinh tế; tốc độ tăng trưởng về số lượng các cơ sở kinh tế hoạt động trong các ngành công nghiệp văn hóa bình quân đạt 10%/năm; tốc độ tăng trưởng về giá trị xuất khẩu của các ngành công nghiệp văn hóa bình quân đạt 7%/năm; hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa, xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật... Mục tiêu đến năm 2045, phấn đấu doanh thu đóng góp 9% GDP của đất nước, lao động chiếm tỷ trọng 8% trong tổng lực lượng lao động của nền kinh tế, quy mô các sản phẩm công nghiệp văn hóa số chiếm tỷ trọng trên 80% sản phẩm công nghiệp văn hóa, tăng trưởng về giá trị xuất khẩu của các ngành công nghiệp văn hóa đạt 9%/năm. Có 10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa tầm vóc quốc tế; phấn đấu thêm khoảng 8 - 10 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh; phấn đấu nằm trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa...

Như vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là phát triển văn hóa mà còn là chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành nguồn lực phát triển và giá trị kinh tế, yêu cầu này đòi hỏi Nhà nước phải có phương thức quản lý phù hợp.

Các ngành công nghiệp văn hóa là khu vực kinh tế đặc thù. Những đặc điểm về tài sản vô hình, phụ thuộc lớn vào bảo hộ sở hữu trí tuệ,… khiến sự phát triển của các ngành này không thể chỉ dựa vào cơ chế tự điều tiết của thị trường, mà phải có sự tham gia quản lý của Nhà nước. Nhà nước phải đóng vai trò định hướng, điều tiết và kiến tạo phát triển thông qua ban hành chiến lược, xây dựng thể chế, chính sách để tạo lập môi trường kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh; khơi thông, huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực; bảo vệ tài sản trí tuệ; thúc đẩy đầu tư, đổi mới sáng tạo và liên kết giữa các chủ thể.

Trong thực tiễn, tiềm năng kinh tế của công nghiệp văn hóa Việt Nam lớn nhưng việc khai thác và chuyển hóa tiềm năng đó thành kết quả kinh tế thời gian qua lại chưa tương xứng. Các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra trong Chiến lược và Nghị quyết số 80-NQ/TW đều là những mục tiêu kinh tế cụ thể, đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý nhà nước để huy động nguồn lực, tạo lập thị trường và môi trường kinh doanh, thúc đẩy doanh nghiệp, nâng cao năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của các ngành công nghiệp văn hóa.

Khi các ngành công nghiệp văn hóa được xác định là một bộ phận ngày càng quan trọng của nền kinh tế, hiệu quả phát triển của khu vực này phụ thuộc đáng kể vào chất lượng quản lý nhà nước. Do đó, quản lý nhà nước phải được đổi mới đồng bộ, toàn diện trên nền tảng công nghệ, nền tảng số; xử lý hiệu quả mối quan hệ Nhà nước - thị trường - doanh nghiệp, chuyển mạnh từ quản lý hành chính trực tiếp sang kiến tạo môi trường kinh doanh, sử dụng hiệu quả các công cụ kinh tế và chính sách để dẫn dắt, khuyến khích các chủ thể đầu tư, sáng tạo và tham gia chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa.

Thực tiễn quản lý nhà nước đối với các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra

Quản lý nhà nước đối với các ngành công nghiệp văn hóa đã có những chuyển biến đáng kể. Việc hình thành một chiến lược riêng cho phát triển công nghiệp văn hóa và gần đây là Nghị quyết số 80-NQ/TW đã xác định các mục tiêu cụ thể  đến năm 2030, tầm nhìn 2045 cho thấy công nghiệp văn hóa ngày càng được nhận diện rõ hơn với tư cách một khu vực có khả năng tạo ra giá trị kinh tế.

Thứ nhất, về hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và dự báo, định hướng phát triển.

Đây là khâu xác lập mục tiêu, xác định các ưu tiên, không gian phát triển, đồng thời bảo đảm mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa phải được tích hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và bảo đảm an ninh quốc gia. Đồng thời, cần đổi mới tư duy hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phương thức quản lý nhà nước theo hướng thích ứng với bối cảnh số, với đối tượng quản lý đang gia tăng mạnh mẽ các hoạt động trong môi trường số, với chuỗi giá trị và hệ sinh thái, công nghiệp văn hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên không gian số. Đối với công tác dự báo, định hướng phát triển, Nhà nước cần từng bước hình thành hệ thống dữ liệu về các ngành công nghiệp văn hóa, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý, khai thác dữ liệu phục vụ phân tích thị trường, dự báo xu hướng và đánh giá tác động chính sách, phục vụ chuyển dần từ quản lý chủ yếu dựa trên kinh nghiệm và đi sau giải quyết khi vấn đề đã xảy ra sang quản lý dựa trên dữ liệu, dự báo, dựa trên tính chủ động và khả năng thích ứng nhanh.

Thứ hai, hệ thống thể chế, chính sách kiến tạo phát triển các ngành công nghiệp văn hóa.

Việt Nam đã bước đầy xây dựng được hệ thống thể chế, chính sách hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, do tính liên ngành, hoạt động của các chủ thể trong lĩnh vực này đồng thời chịu tác động của nhiều hệ thống thể chế và chính sách kinh tế khác nhau. Điều đó đặt ra yêu cầu quản lý không chỉ ở việc hoàn thiện từng chính sách riêng lẻ, mà quan trọng hơn là bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và khả năng phối hợp của hệ thống thể chế, chính sách trong toàn bộ hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Các chính sách về đầu tư, tài chính - tín dụng, thuế, sở hữu trí tuệ, khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, cạnh tranh, thị trường và thương mại quốc tế cần được thiết kế theo hướng hỗ trợ lẫn nhau, tạo động lực cho đầu tư, giảm chi phí và rủi ro thị trường, cải thiện khả năng tiếp cận các nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo của các chủ thể kinh tế; đối với các ngành công nghiệp văn hóa, hợp tác công - tư cần nhanh chóng được thể chế hóa.

Một vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay là hoàn thiện thể chế và chính sách kinh tế theo hướng gia tăng mức độ thích ứng với thị trường và các mô hình kinh doanh số. Chuyển đổi số làm xuất hiện những quan hệ kinh tế mà khuôn khổ quản lý truyền thống chưa bao quát đầy đủ, như quyền đối với dữ liệu, tài sản số, quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm có sự tham gia của AI, phân chia lợi ích giữa nền tảng với doanh nghiệp và người sáng tạo, thuế và doanh thu từ giao dịch xuyên biên giới,… Vì vậy, thể chế phải có khả năng thích ứng nhanh hơn với sự vận động của công nghệ và thị trường, vừa tạo không gian cho phát triển, vừa bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, thị trường minh bạch, vừa bảo vệ quyền tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể.

Ba là, tổ chức thực hiện cần sự phối hợp tham gia của nhiều cơ quan, nhiều cấp quản lý.

Tính liên ngành của công nghiệp văn hóa khiến việc thực hiện các mục tiêu phát triển không thuộc trách nhiệm riêng của ngành văn hóa mà liên quan trực tiếp đến quản lý đầu tư, tài chính, khoa học - công nghệ, thương mại, du lịch, lao động và chính quyền địa phương. Vì vậy, cần thiết lập cơ chế điều phối đủ mạnh, phân định rõ trách nhiệm và bảo đảm sự phối hợp đồng bộ giữa các chủ thể, khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo hoặc bỏ trống nhiệm vụ.

Một thách thức hiện tồn cần sớm được giải quyết là tổ chức thực hiện các mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trong sự thống nhất với hệ thống mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Mặc dù bước đầu đã có sự tích hợp về định hướng và mục tiêu, song trên thực tế, nguy cơ phát triển công nghiệp văn hóa vẫn được nhìn nhận chủ yếu như một nhiệm vụ riêng của ngành văn hóa, chưa được các cấp, các ngành triển khai nghiêm túc trong quá trình thực hiện các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, lĩnh vực và địa phương. Trong khi, các mục tiêu đều cần được lượng hóa bằng những kết quả kinh tế như tốc độ tăng trưởng, đóng góp GDP, năng suất, doanh thu, việc làm, số lượng doanh nghiệp, quy mô thị trường, xuất khẩu và năng lực cạnh tranh…

Bốn là, tăng nguồn lực đầu tư phát triển kết hợp với phân bổ, sử dụng hiệu quả.

Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa cần lượng vốn đầu tư lớn để khai thác tài nguyên văn hóa; đào tạo nguồn nhân lực sáng tạo; đầu tư công nghệ, dữ liệu, hạ tầng số; quảng bá thương hiệu; tổ chức mạng lưới phân phối,… Do đó, vấn đề đặt ra bên cạnh việc tăng đầu tư từ Nhà nước, phải chú trọng việc phân bổ và sử dụng nguồn lực có hiệu quả. Làm tốt công tác này là hoạt động quản lý nhà nước đã phát huy hiệu quả các nguồn lực và làm tốt vai trò dẫn dắt đầu tư.

Trình diễn bộ sưu tập “Điệu cổ Việt quốc”_Ảnh: baotuyenquang.com.vn

Năm là, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá.

Yêu cầu quan trọng trong giai đoạn mới là chuyển từ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hành chính sang đánh giá kết quả và tác động của quản lý nhà nước đối với sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa. Theo đó, hiệu quả quản lý cần được phản ánh qua những chuyển biến thực chất về môi trường kinh doanh, khả năng tiếp cận nguồn lực, năng lực doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo, năng suất, quy mô thị trường và kết quả phát triển của ngành. Điều này đòi hỏi kiểm tra, giám sát không chỉ nhằm phát hiện và xử lý vi phạm mà phải trở thành công cụ theo dõi quá trình thực hiện, đo lường kết quả, nhận diện những bất cập và cung cấp căn cứ để điều chỉnh chính sách. Trong môi trường số, Nhà nước cần xây dựng hệ thống dữ liệu và bộ chỉ số đánh giá phù hợp, đồng thời ứng dụng công nghệ để theo dõi thị trường, giám sát thực thi và nhận diện rủi ro, từng bước chuyển từ kiểm tra dựa chủ yếu vào hồ sơ, báo cáo và hậu kiểm sang giám sát dựa trên dữ liệu, kết quả và tác động.

Nhìn chung, mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa đã được nâng lên rất cao và ngày càng mang tính kinh tế rõ nét, do đó hoạt động quản lý cần có những chuyển đổi mạnh mẽ hơn nữa, đổi mới tư duy từ quản lý hoạt động văn hóa sang quản lý phát triển các ngành kinh tế dựa trên văn hóa và sáng tạo; từ Nhà nước trực tiếp thực hiện sang Nhà nước kiến tạo và điều phối, dẫn dắt; từ quản lý theo từng ngành riêng biệt sang quản trị hệ sinh thái…

Những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước đối với các ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số

Một là, tính liên ngành của các ngành công nghiệp văn hóa đặt ra yêu cầu tăng cường phối hợp trong quản lý nhà nước.

Quá trình khai thác nguồn lực văn hóa, đầu tư sáng tạo, đầu tư sản xuất, bảo hộ sở hữu trí tuệ đến phân phối, thương mại hóa và phát triển thị trường đều liên quan trực tiếp đến chức năng quản lý của nhiều ngành, nhiều cấp chính quyền. Vì vậy, cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của từng chủ thể quản lý, đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành, liên cấp hiệu quả. Có như vậy mới khắc phục được tình trạng phân tán, chồng chéo hoặc bỏ trống nhiệm vụ quản lý, và tạo môi trường để chuỗi giá trị đạt hiệu quả cao nhất.

Hai là, tính đặc thù kinh tế của sản phẩm công nghiệp văn hóa đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế và các công cụ điều tiết thị trường.

Sản phẩm công nghiệp văn hóa dựa nhiều vào sáng tạo, bảo hộ sở hữu trí tuệ và khả năng thương mại hóa; trong khi phần lớn các chủ thể sáng tạo, các doanh nghiệp còn có quy mô nhỏ, hạn chế về khả năng tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường. Điều đó đòi hỏi Nhà nước tạo lập khuôn khổ thể chế phù hợp, bảo đảm quyền tài sản, giảm chi phí và rủi ro thị trường, cải thiện khả năng tiếp cận nguồn lực, bảo đảm cạnh tranh và tạo điều kiện để các chủ thể sáng tạo, các doanh nghiệp có điều kiện phát triển ổn định và có cơ hội bứt phá mở rộng quy mô, gia tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Ba là, tính đa chủ thể của hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đặt ra yêu cầu đổi mới vai trò và phương thức quản lý của Nhà nước.

Sự phát triển của công nghiệp văn hóa ngày càng dựa trên tương tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp, thị trường, trường đại học, viện nghiên cứu, cộng đồng và các chủ thể sáng tạo. Vì vậy, quản lý nhà nước cần chuyển mạnh từ quản lý hành chính đơn thuần sang kiến tạo và điều phối phát triển, tạo lập cơ chế liên kết, phân định trách nhiệm và hài hòa lợi ích giữa các chủ thể trong toàn bộ hệ sinh thái.

Bốn là, chuyển đổi số đặt ra yêu cầu số hóa cơ sở dữu liệu và số hóa quy trình quản lý nhà nước đối với các ngành công nghiệp văn hóa.

Sự phát triển của nền tảng số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và các mô hình kinh doanh mới đang làm thay đổi đối tượng, phạm vi và môi trường quản lý. Điều đó đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về công nghiệp văn hóa theo hướng đồng bộ, liên thông, có khả năng cập nhật, chia sẻ và khai thác phục vụ hoạch định chính sách và ra quyết định. Đồng thời, cần đẩy mạnh số hóa quy trình quản lý, từ lập kế hoạch, tổ chức thực hiện đến kiểm tra, giám sát và đánh giá; tăng cường ứng dụng công nghệ để nâng cao tính minh bạch, khả năng phối hợp và hiệu quả quản lý, từng bước chuyển từ quản lý chủ yếu dựa trên thủ tục hành chính sang quản lý dựa trên dữ liệu, công nghệ và kết quả, đáp ứng yêu cầu quản lý phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trong môi trường số.

Nhìn chung, bối cảnh chuyển đổi số không làm giảm vai trò quản lý của Nhà nước mà đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước theo hướng kiến tạo phát triển, điều phối hệ sinh thái và quản trị dựa trên dữ liệu. Đây là điều kiện quan trọng để thị trường công nghiệp văn hóa vận hành hiệu quả, khơi thông các nguồn lực và chuyển hóa tiềm năng văn hóa, sáng tạo thành giá trị kinh tế và năng lực cạnh tranh.

Sân khấu hát bội giữa trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh hiện đại _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong bố cảnh chuyển đổi số

Cần gắn mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa với các mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia. Các chỉ tiêu tăng trưởng, GDP, năng suất, việc làm, xuất khẩu, doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh cần được cụ thể hóa trong chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển quốc gia; đồng thời tích hợp với chiến lược khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, thương mại, du lịch và phát triển vùng.

Để hiện thực hóa định hướng này, cần hệ thống giải pháp đồng bộ:

Một là, hoàn thiện thể chế và hệ thống chính sách kinh tế. Rà soát những rào cản đối với đầu tư và kinh doanh; hoàn thiện chính sách tài chính, tín dụng, thuế, đất đai và hợp tác công - tư; cơ chế định giá và thương mại hóa tài sản trí tuệ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thúc đẩy ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồn lực.

Hai là, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các chủ thể; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, liên cấp đủ mạnh. Đối với những mô hình mới chưa có nhiều kinh nghiệm, có thể lựa chọn thí điểm các cụm công nghiệp văn hóa, không gian sáng tạo, mô hình hợp tác công - tư…

Ba là, đổi mới cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực. Nhà nước cần chuyển từ tư duy cấp kinh phí sang đầu tư kiến tạo năng lực phát triển, ưu tiên đầu tư những hạ tầng quan trọng và nguồn lực có yêu cầu lớn như cơ sở dữ liệu, hạ tầng sáng tạo, đào tạo nhân lực, nghiên cứu, phát triển, bảo tồn và số hóa tài nguyên văn hóa.

Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước. Hình thành cơ sở dữ liệu về các ngành công nghiệp văn hóa; từng bước kết nối dữ liệu giữa các cơ quan sử dụng chung dữ liệu, từ phục vụ dự báo đến hoạch định chính sách,…; nâng cao năng lực quản lý nền tảng số, tài sản trí tuệ số, giao dịch xuyên biên giới và AI.

Năn là, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá và đo lường hiệu quả quản lý nhà nước. Trọng tâm là xây dựng bộ tiêu chí và hệ thống chỉ số đo lường phù hợp với từng nội dung quản lý, bảo đảm có thể lượng hóa mức độ hoàn thành, chất lượng và hiệu quả quản lý nhà nước đối với các ngành công nghiệp văn hóa. Cùng với kiểm tra việc chấp hành pháp luật và thực hiện trách nhiệm quản lý, cần tăng cường giám sát thường xuyên trên cơ sở dữ liệu, xác định rõ đối tượng, nội dung, chỉ số và kỳ đánh giá. Phương thức đánh giá cần kết hợp giữa chỉ tiêu định lượng với đánh giá định tính, giữa dữ liệu quản lý với phản hồi của doanh nghiệp và các chủ thể liên quan; đồng thời từng bước hình thành hệ thống đo lường thống nhất, có khả năng so sánh theo thời gian, giữa các ngành và địa phương. Qua đó, kết quả kiểm tra, giám sát và đánh giá không chỉ phản ánh mức độ hoàn thành nhiệm vụ mà còn đo lường được thực chất hiệu quả quản lý nhà nước.

Việc đổi mới tư duy quản lý sẽ mở đường cho đổi mới thể chế. Thể chế phù hợp sẽ khơi thông các nguồn lực cho phát triển. Chuyển đổi số tác động mạnh mẽ đến nội dung quản lý, phương thức quản lý, công cụ quản lý nhà nước… Những sự đổi mới trong quản lý nhà nước tạo động lực để các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam chuyển tiềm năng thành giá trị, lợi thế văn hóa của đất nước thành lợi thế kinh tế, lợi thế cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên số./.

NGUYỄN HUY VINH

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Nguồn: Tạp chí Cộng sản

-----------------

(1) Các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam gồm: 1- Điện ảnh; 2- Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; 3- Nghệ thuật biểu diễn; 4- Phần mềm và các trò chơi giải trí; 5- Quảng cáo; 6- Thủ công mỹ nghệ; 7- Du lịch văn hóa; 8- Thiết kế sáng tạo; 9- Truyền hình và phát thanh; 10- Xuất bản, là những ngành tạo ra các sản phẩm kết hợp yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ văn hóa của người dân và phù hợp với mục tiêu hội nhập quốc tế, phát triền bền vũng đất nước


Hỏi đáp về Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, Lần thứ I, Nhiệm kỳ 2025 - 2030