Thực hiện tốt công tác giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên theo văn kiện Đại hội XIV của Đảng

09/09/2026
287

Giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên là một trong những nội dung quan trọng và là công việc thường xuyên của Đảng. Giáo dục lý luận chính trị giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiểu sâu sắc và vững tin vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả hoạt động thực tiễn xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Hiện nay, trước sự thay đổi nhanh chóng, toàn diện và sâu sắc của tình hình thế giới và trong nước, việc giáo dục lý luận chính trị đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới toàn diện theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu tham quan trưng bày “Những tấm gương bình dị mà cao quý” tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị_Ảnh: TTXVN

Giáo dục lý luận chính trị là một trong những hoạt động quan trọng của Đảng

Công tác giáo dục lý luận chính trị là một trong những khâu của công tác lý luận của Đảng, là các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng, tuyên truyền, nâng cao trình độ, nhận thức lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm quán triệt sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, củng cố niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, tạo nên ý thức, quyết tâm chính trị, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Giáo dục lý luận chính trị góp phần nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực công tác, nâng cao tầm nhìn, tư duy, phương pháp, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, “nâng cao vai trò tiên phong của Đảng về chính trị, lý luận, trí tuệ, văn hóa và đạo đức; thể hiện vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(1). C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã khẳng định: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”(2).

Công tác giáo dục lý luận chính trị có mối quan hệ gắn bó mật thiết với công tác nghiên cứu lý luận và đấu tranh trên lĩnh vực lý luận với các quan điểm sai trái, thù địch. Nghiên cứu, phát triển lý luận gắn với giáo dục lý luận, tạo tiền đề để nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực của đảng cầm quyền; là cơ sở, điều kiện để thống nhất nhận thức, ý chí và hành động trong Đảng, bồi dưỡng ý chí, tình cảm, lối sống tốt đẹp cho cán bộ, đảng viên. Giáo dục lý luận còn cung cấp những luận cứ khoa học, cơ sở lý luận vững chắc, tin cậy, trở thành vũ khí sắc bén đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Những yếu tố tác động đến chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên

Giáo dục lý luận chính trị là hoạt động đặc thù vì nó tác động vào nhận thức, tư duy, tình cảm và hành động của con người, tạo niềm tin về chế độ chính trị, củng cố nền tảng tư tưởng vững chắc, dẫn dắt, soi đường cho cả dân tộc. Trong khi đó, tư tưởng của con người lại luôn bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan, nhất là sự đổi thay của thực tiễn và những khuynh hướng tư tưởng chính trị trên thế giới. Vì thế, để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục lý luận chính trị, cần chú trọng những yếu tố tác động sau đây:

Thứ nhất, tính khoa học, cách mạng của lý luận chính trị.

Sự lôi cuốn, sức thuyết phục của chủ thuyết lý luận chính trị là yếu tố quan trọng đầu tiên, tạo tiền đề vững chắc tạo nên chất lượng của công tác giáo dục lý luận chính trị. Niềm tin chính trị dựa trên sự thuyết phục bởi những luận thuyết khoa học, cách mạng, khả thi nhằm cải tạo thế giới tốt hơn, xây dựng một xã hội tiến bộ, nhân văn hơn. Công tác lý luận của Đảng dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với thế giới quan, phương pháp luận khoa học, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa của nhân loại. Điều đó đặt ra yêu cầu phải thường xuyên nghiên cứu, phát triển lý luận, phù hợp và đáp ứng yêu cầu của thời đại, đi đôi với bảo vệ những nguyên lý khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đấu tranh chống các luận điểm xuyên tạc, cơ hội và xét lại. Đây là đòi hỏi khách quan, xuất phát từ thực tiễn công cuộc đổi mới ngày càng sâu rộng.

Thứ hai, thực tiễn chính trị thế giới tác động trực tiếp, thường xuyên, tạo cả thuận lợi và khó khăn trong công tác giáo dục lý luận chính trị.

Thế giới ngày nay thay đổi nhanh chóng, khó lường, đòi hỏi và yêu cầu cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức lý luận, vững vàng vượt mọi khó khăn, thử thách, đưa đất nước đi lên. Xu thế lớn của thời đại ngày nay vẫn là hòa bình, hợp tác và phát triển, tạo thuận lợi cho sự nghiệp cách mạng nước ta; nhưng, sự bất ổn do chiến tranh, xung đột vũ trang, dân tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, khủng bố, tranh chấp chủ quyền… vẫn sẽ tác động mạnh đến tư tưởng chính trị trong Đảng. Vai trò ngày càng tăng của tri thức, của các phương tiện thông tin đại chúng, các khuynh hướng tư tưởng chính trị, cả tiến bộ và phản động, tiếp tục đấu tranh gay gắt với nhau, trực tiếp xâm nhập vào nước ta nhanh chóng, đa chiều, tác động đến tư tưởng, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Thứ ba, sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Đây là yếu tố tác động trực tiếp, toàn diện và có tính quyết định đến chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị, bởi thực tiễn luôn là tiêu chuẩn của chân lý. Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình với định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vai trò, vị thế và uy tín quốc tế của quốc gia được nâng cao; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc. Những thành tựu đó là những minh chứng rõ nét cho tính đúng đắn của đường lối đổi mới phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(3). Đó là minh chứng rõ nhất về sự phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học trong điều kiện mới đã tác động tích cực đến niềm tin của cán bộ, đảng viên vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về đường lối đổi mới của Đảng. Tuy nhiên, cũng trong quá trình đổi mới, cơ cấu giai cấp - xã hội ngày càng đa dạng, phức tạp hơn, sự đa dạng về lợi ích kinh tế, sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng, phân hóa giàu - nghèo giữa các tầng lớp dân cư, những yếu kém trong quản trị xã hội, tệ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực… ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên và hiệu quả giáo dục lý luận chính trị.

Thứ tư, sự phát triển của dân chủ trong Đảng, trước hết trong nghiên cứu, học tập lý luận chính trị.

Không có dân chủ thì không có sáng tạo. Dân chủ và tự do tư tưởng là điều kiện khách quan để phát huy sáng tạo trong nghiên cứu, truyền bá lý luận chính trị. Điều đó đòi hỏi môi trường dân chủ đi đôi với nêu cao trách nhiệm chính trị của tổ chức và cá nhân trong hoạt động lý luận, trong đó có giáo dục lý luận chính trị. Dân chủ trong nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để nâng cao năng lực và chất lượng dự báo, đề xuất hoàn thiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên trong quá trình học tập, bồi dưỡng, nghiên cứu lý luận chính trị có kinh nghiệm và điều kiện thuận lợi để trao đổi, phản biện, góp ý, đề xuất ý kiến, kiến nghị để giải quyết những “điểm nghẽn”, những vấn đề phức tạp mà thực tiễn đặt ra. Vì thế, việc mở rộng dân chủ, phát huy tự do tư tưởng trong nghiên cứu khoa học, phát triển lý luận, trong hoạt động giảng dạy, học tập lý luận chính trị là rất cần thiết.

Thứ năm, hoạt động giáo dục, truyền bá, phổ biến lý luận chính trị.

Đây là tác động trực tiếp, thường xuyên, được bảo đảm bởi các quy định của Đảng về chế độ học tập, đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức lý luận chính trị đối với cán bộ, đảng viên. Theo đó, hệ thống các cơ sở đào tạo, đội ngũ giảng viên, báo cáo viên lý luận chính trị là lực lượng nòng cốt trong hoạt động giáo dục lý luận chính trị. Việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên trở thành trách nhiệm chính trị của mỗi tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên với nhiều hình thức phong phú như học tập trung (hay tại chức) trong hệ thống các cơ sở đào tạo lý luận chính trị của cả nước; trong sinh hoạt đảng, học tập các nghị quyết, chủ trương mới của Đảng của các cấp ủy, hệ thống tuyên giáo và của cả hệ thống chính trị.

Thứ sáu, hoạt động đấu tranh trên lĩnh vực lý luận.

Nguyên tắc của công tác tư tưởng mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Công tác tư tưởng phải kết hợp giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, làm cho tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác dụng uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi những sai trái”(4).

Để “xây” nền tảng tư tưởng vững chắc, một mặt, phải nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới; mặt khác, phải tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về đường lối đổi mới của Đảng. Để “chống” các quan điểm sai trái thù địch có hiệu quả, phải nắm vững lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng. Từng cấp ủy và mỗi cán bộ, đảng viên phải tự “miễn dịch” với những tư tưởng sai trái, phản động, xuyên tạc bằng nhận thức lý luận sâu sắc, bằng bản lĩnh chính trị vững vàng và ý thức trách nhiệm trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đó là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên bởi các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, nhất là trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao tặng Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh bức tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi thăm và làm việc với lãnh đạo chủ chốt Học viện_Ảnh: TTXVN

Những nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công tác giáo dục lý luận theo văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Để “đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng”(5) theo văn kiện Đại hội XIV của Đảng, cần cụ thể hóa và thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức và ý thức học tập lý luận chính trị cho cấp ủy và cán bộ, đảng viên.

Công tác tư tưởng, lý luận là nhiệm vụ của mỗi cấp ủy, trước hết là của bí thư cấp ủy và người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Để có lý luận, con đường tốt nhất là học lý luận, nhất là cán bộ, đảng viên trong quy hoạch và giữ chức vụ lãnh đạo. Điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đã lựa chọn đúng cán bộ còn cần phải dạy bảo lý luận cho cán bộ. Chỉ thực hành mà không có lý luận cũng như có một mắt sáng, một mắt mù”(6).

Nhận thức đúng vai trò của lý luận thì mỗi cán bộ, đảng viên mới có ý thức, thật tâm, chuyên tâm để học tập nâng cao trình độ lý luận của mình. Chỉ khi nào mỗi tổ chức đảng xác định việc học lý luận chính trị là quan trọng, cần thiết thì khi đó mới có kế hoạch cụ thể trong đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới về lý luận chính trị. Chỉ khi nào cán bộ, đảng viên nhận thức việc học lý luận chính trị để bản thân trưởng thành hơn, có kiến thức, kinh nghiệm để lãnh đạo tốt hơn thì mới khắc phục một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã chỉ ra. Đây cũng là điều mà Đảng xác định là nhiệm vụ cấp bách nhất trong 3 nhiệm vụ cấp bách, đó là đấu tranh ngăn chặn tình trạng “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”(7).

Thứ hai, tiếp tục đổi mới việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng bảo đảm thiết thực, hiệu quả.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác định nhiệm vụ: “Tăng cường công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và giáo dục truyền thống cách mạng của Đảng gắn với việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện”(8). Theo đó, công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và giáo dục truyền thống cách mạng của Đảng cần phải được tiến hành thường xuyên, thông qua hoạt động của nhiều tổ chức trong toàn hệ thống chính trị.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục, truyền bá lý luận, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số. Kết quả tích cực về thời gian, chất lượng các cuộc triển khai học tập, quán triệt nghị quyết theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến từ lần đầu tiên vào tháng 3-2021 đến nay đã khẳng định tính kịp thời, chính xác, đồng bộ và là cuộc cách mạng trong triển khai nghị quyết của Đảng, cần tiếp tục thực hiện. Tuy nhiên, việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng không phải học một lần là xong, mà phải coi đây là công việc thường xuyên, phải được thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản, khoa học trong suốt cả nhiệm kỳ, bằng nhiều hình thức, nhất là trong giáo dục lý luận chính trị. Đồng thời, công tác tuyên truyền và giáo dục chủ trương, đường lối, truyền thống cách mạng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải gắn với việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội các cấp.

Thứ ba, đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo phương châm khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại.

Đại hội XIV của Đảng xác định nhiệm vụ: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng”(9), trong đó, công tác giáo dục lý luận chính trị cần thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

Đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị phải bảo đảm tính hệ thống, cơ bản, thực tiễn, phù hợp với từng chức danh lãnh đạo, quản lý, vị trí việc làm. Tiếp tục đổi mới chương trình, phương thức đào tạo, bồi dưỡng, nhất là chương trình cao cấp lý luận chính trị; chương trình bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng cho cán bộ cấp cao, cán bộ quy hoạch cấp chiến lược của Đảng. Tập trung xây dựng chương trình, giáo trình, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước cho cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan từ Trung ương đến cơ sở, nhất là xã, phường, đặc khu trong điều kiện mới.

Đổi mới nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải bảo đảm kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng, phát triển của đất nước; kế thừa những thành tựu mới về khoa học lý luận và tiếp thu có chọn lọc các thành tựu phát triển, tinh hoa tri thức của nhân loại nhằm trang bị tư duy chiến lược và tầm nhìn thời đại, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ.

Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng thiết thực, hiệu quả, lấy người học làm trung tâm của quá trình dạy và học: Đối với giảng viên, để thực hiện phương châm học tập “lý luận gắn với thực tiễn”, đòi hỏi giảng viên phải kết hợp một cách nhuần nhuyễn và hiệu quả giữa tính khoa học với tính đảng trong giảng dạy, cung cấp tri thức mới, tầm nhìn mới, kinh nghiệm trong nước, quốc tế, năng lực tổng kết thực tiễn. Điều đó đòi hỏi tăng c­ường đào tạo, đào tạo lại, nâng cao trình độ khoa học, bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy các bộ môn khoa học Mác - Lê-nin, t­ư t­ưởng Hồ Chí Minh như văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã chỉ rõ: “Đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận, trọng dụng các chuyên gia đầu ngành”(10).

Kiểm tra chất lượng công tác giáo dục chính trị tại Trung tâm 286, Bộ tư lệnh 86_Ảnh: cuuchienbinh.vn

Đối với học viên, những người đã có quá trình công tác thực tiễn nhất định, cần phát huy tính tích cực tham gia quá trình đào tạo, đối thoại, chia sẻ kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng phản biện chính sách, năng lực tư duy cùng nghiên cứu, đề xuất tháo gỡ những điểm nghẽn của cơ chế, góp phần hoàn thiện chính sách, khắc phục nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; hay tâm lý học cốt để đủ tiêu chuẩn bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử các chức danh lãnh đạo.

Đối với cơ quan quản lý đào tạo, cần đổi mới đồng bộ các khâu: hiện đại hóa, số hóa hoạt động thông tin, thư viện; cải cách công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả học tập lý luận theo hướng nâng cao chất lượng, chống học để đối phó kiểm tra, thi... Các cơ sở đào tạo cán bộ không chỉ trang bị kiến thức lý luận, mà còn là nơi rèn luyện mọi mặt cho người học. Đổi mới các hoạt động quản lý học viên bảo đảm môi trường thực sự dân chủ trong nghiên cứu, trao đổi học thuật hướng vào việc vận dụng kiến thức lý luận vào thực tiễn công tác, thực hiện phương châm “lý luận liên hệ với thực tiễn”, chia sẻ kinh nghiệm, cách làm hay. Đồng thời, phải nghiêm túc trong rèn luyện đạo đức, ý thức chấp hành kỷ luật. Đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên theo hướng khoa học, thực chất, chống “bệnh thành tích” và chủ nghĩa hình thức.

Khuyến khích cán bộ tự học, thực học, học tập suốt đời theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”(11). Tự học của cán bộ, đảng viên thông qua đọc sách, báo, tạp chí của Đảng,… các phương tiện thông tin đại chúng; qua đó, nâng cao kiến thức, năng lực tư duy, tầm nhìn, khả năng phản biện, góp ý hoàn thiện chính sách.

Thứ tư, thực hiện nghiêm chế độ học tập lý luận chính trị, đưa việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức cho cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược đi vào nền nếp.

Tiếp tục thực hiện nghiêm các quy định về chế độ học tập lý luận chính trị của Đảng, “Đưa việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược đi vào nền nếp, nhất quán từ trung ương đến cơ sở, phù hợp với từng đối tượng, chú trọng chất lượng, hiệu quả, siết chặt kỷ luật, kỷ cương”(12). Tại Đại hội XIV, Đảng ta tiếp tục chỉ đạo “Duy trì nền nếp và nâng cao chất lượng bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới”(13).

Kết quả từ việc thực hiện các nhiệm vụ trên phải là căn cứ quan trọng để quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; coi đó là một trong những căn cứ đánh giá cán bộ và đánh giá, xếp loại đảng viên hằng năm. Xác định động cơ học tập đúng đắn cần theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại”(14)./.

 

PGS, TS Nguyễn Minh Tuấn

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Nguồn: Tạp Chí cộng sản

------------------------

(1) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2017, t. 66, tr. 420
(2) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 1, tr. 580
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 25
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. II, tr. 232
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 131
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 315
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 168
(8), (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 131
(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 132
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 361
(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 183
(13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 131
(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 208


Tin liên quan
Hỏi đáp về Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, Lần thứ I, Nhiệm kỳ 2025 - 2030