Giá trị chính trị cốt lõi của Đảng Cộng sản Việt Nam: Chung đúc qua 40 năm đổi mới và phát huy trong kỷ nguyên mới (Kỳ 2 và hết)

09/09/2026
303

Kỳ 2: Nhận diện các giá trị chính trị cốt lõi của Đảng Cộng sản Việt Nam từ lý luận về đường lối đổi mới

Trải qua 40 năm, tính đúng đắn, phù hợp và sức sống của lý luận về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định bằng những thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Tiếp cận từ hệ quy chiếu giá trị, có thể thấy, lý luận về đường lối đổi mới kết tinh nhiều giá trị chính trị cốt lõi mang đậm bản sắc nền chính trị Việt Nam. Việc nhận diện các giá trị này không chỉ góp phần lý giải về sự thành công của chặng đường đã qua, mà còn củng cố nền tảng chính trị - tinh thần của xã hội, tin tưởng vào con đường phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Nền tảng lý luận và đường lối chính trị của một chính đảng cầm quyền không chỉ là hệ thống quan điểm, mục tiêu hay giải pháp lãnh đạo quốc gia, mà là sự kết tinh và biểu hiện tập trung các giá trị chính trị cốt lõi mà đảng đó đại diện. Các giá trị đó tạo nên bản sắc chính trị, xác lập sứ mệnh lịch sử, định hình chuẩn mực đạo đức, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của đảng; đồng thời, trở thành nguồn sức mạnh tinh thần nội sinh giúp đảng giữ vững bản lĩnh trước thử thách, củng cố niềm tin xã hội, tập hợp và dẫn dắt nhân dân trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền. Vì vậy, muốn nhận diện chiều sâu chính trị của một đảng cầm quyền, cần nhìn vào hệ giá trị được phản ánh trong lý luận, đường lối và được kiểm nghiệm bằng hiệu quả thực tiễn cầm quyền của đảng đó.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta, do đó, các giá trị chính trị cốt lõi của Đảng không chỉ phản ánh bản chất, mục tiêu cầm quyền và cơ sở chính danh của Đảng đối với xã hội, mà còn là sự kết tinh tập trung bản sắc nền chính trị Việt Nam đương đại. Đó là hệ giá trị được hình thành từ truyền thống lịch sử của dân tộc, từ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; vừa mang những giá trị tiến bộ của thời đại, vừa mang dấu ấn đặc thù của con đường phát triển Việt Nam.

Tổng Bí thư Tô Lâm trải nghiệm thực tế tuyến Metro số 1 (Bến Thành - Suối Tiên) và trò chuyện với người dân, ngày 22-2-2025_Ảnh: Tư liệu

Qua 40 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, Đảng đã từng bước hình thành và không ngừng hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới - nền tảng định hướng toàn bộ tiến trình phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Hệ thống đó là tổng thể các quan điểm, mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; nhân dân là trung tâm, là chủ thể; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác lập mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 3 trụ cột nền tảng: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội(1).

Thực tiễn công cuộc đổi mới đã khẳng định tính đúng đắn, sức sống của hệ thống lý luận của Đảng. Từ một quốc gia nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, khủng hoảng kinh tế - xã hội gay gắt, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời tạo dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế chưa từng có. Những thành tựu ấy cũng chính là minh chứng sinh động cho năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng, cũng như sức mạnh của hệ giá trị chính trị mà Đảng kiên trì theo đuổi và hiện thực hóa trong thực tiễn.

Từ lý luận về đường lối đổi mới và quá trình tổ chức thực hiện trong 40 năm qua, có thể nhận diện sự hiện diện của nhiều giá trị chính trị cốt lõi mang tính đặc sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nổi bật trong đó là các giá trị: “độc lập, tự chủ”, “tự do”, “đại đoàn kết”, “dân chủ xã hội chủ nghĩa” và “cách mạng, khoa học”. Đây không chỉ là những giá trị được khẳng định trong lý luận, mà còn là những nguyên tắc định hướng hành động, những chuẩn mực chi phối việc xây dựng đường lối, chiến lược, chính sách của Đảng, tiếp tục soi đường cho sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Giá trị chính trị “độc lập, tự chủ” trong giương cao ngọn cờ “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc

Giá trị chính trị “độc lập, tự chủ” là biểu hiện tập trung của bản lĩnh lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng, chi phối việc xác định mục tiêu chính trị lâu dài và toàn bộ quá trình xây dựng, bổ sung, phát triển và tổ chức thực hiện đường lối của Đảng qua các thời kỳ. Giá trị này phản ánh sâu sắc cơ sở chính danh của Đảng trước dân tộc: lãnh đạo nhân dân giành, giữ và phát huy quyền tự quyết của quốc gia; lựa chọn con đường phát triển phù hợp với lợi ích của nhân dân và điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam.

Giá trị chính trị đó đã “bén rễ” ngay từ khi Đảng ra đời. Theo học thuyết Mác - Lê-nin, đảng cộng sản là sản phẩm tất yếu của sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học và phong trào công nhân. Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Chính yếu tố yêu nước và khát vọng độc lập dân tộc đã tạo nên nét đặc sắc trong cội nguồn chính trị của Đảng, làm cho vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội sớm gắn bó hữu cơ trong mục tiêu cách mạng Việt Nam. Từ đó, độc lập, tự chủ không chỉ là yêu cầu chống áp bức, lệ thuộc từ bên ngoài, mà còn là năng lực tự quyết về con đường phát triển của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng luôn kiên định nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam, không rập khuôn bất kỳ mô hình có sẵn nào từ bên ngoài. Bản lĩnh ấy thể hiện ở khả năng xác định đúng mục tiêu chiến lược trong từng thời kỳ, lựa chọn bước đi phù hợp, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại và chủ động xử lý những vấn đề lớn nảy sinh từ thực tiễn. Nhờ đó, đường lối của Đảng luôn giữ được tính nhất quán về mục tiêu, đồng thời linh hoạt về phương thức thực hiện, bảo đảm cho cách mạng Việt Nam vượt qua nhiều bước ngoặt lịch sử.

Qua 40 năm đổi mới, giá trị chính trị “độc lập, tự chủ” được thể hiện nổi bật ở việc Đảng kiên trì giương cao ngọn cờ “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, đồng thời không ngừng làm sáng tỏ hơn mối quan hệ biện chứng giữa hai mục tiêu chiến lược này. Theo đó, độc lập dân tộc là tiền đề và điều kiện cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa xã hội là cơ sở vững chắc nhất để bảo đảm nền độc lập dân tộc được tồn tại bền vững, lâu dài, thực chất và ngày càng phát triển. Ngay cả khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu rơi vào khủng hoảng và tan rã, Đảng vẫn giữ vững niềm tin, kiên định con đường đã lựa chọn, đồng thời tỉnh táo đổi mới tư duy lý luận và chiến lược phát triển đất nước, đưa đất nước vượt qua khó khăn, đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Điều đó cho thấy, độc lập, tự chủ không chỉ là sự kiên định về lập trường chính trị, mà còn là bản lĩnh đổi mới sáng tạo trước những biến động lớn của thời đại.

Trong xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối thời kỳ đổi mới, giá trị chính trị “độc lập, tự chủ” của Đảng còn được biểu hiện tập trung ở năng lực tự chủ trong tư duy chiến lược, hoạch định chính sách và tổ chức thực tiễn. Việc hình thành lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cho thấy khả năng kết hợp sáng tạo giữa các quy luật phổ biến của kinh tế thị trường với mục tiêu, bản chất và định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội của Việt Nam. Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, việc xác định đúng đối tác, đối tượng trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc; chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy phản ánh tầm nhìn chiến lược độc lập, chủ động của Đảng. Trên lĩnh vực đối ngoại, việc xây dựng nền đối ngoại toàn diện, hiện đại với sự phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; kiên trì đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng đã góp phần nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước và mở rộng không gian phát triển quốc gia.

Bước vào kỷ nguyên mới, tinh thần “tự lực, tự cường, tự tin, tự hào, tự chủ chiến lược” được Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh đã tiếp tục phát triển nội hàm của giá trị “độc lập, tự chủ” trong điều kiện mới. Đây là yêu cầu vừa mang tính chiến lược, vừa mang tính hành động nhằm giữ vững quyền chủ động của đất nước trước những biến động nhanh, phức tạp của thế giới; phát huy cao nhất nội lực, tranh thủ hiệu quả ngoại lực; khơi dậy khát vọng phát triển và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Giá trị “độc lập, tự chủ” sẽ tiếp tục là điểm tựa chính trị - tinh thần, là định hướng chiến lược và là nguồn sức mạnh nội sinh to lớn để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Giá trị chính trị “tự do” trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người, giải phóng và phát huy toàn diện năng lực của con người, xã hội

Giá trị chính trị “tự do” phản ánh mục tiêu cầm quyền vì con người, vì hạnh phúc của nhân dân và là một chuẩn mực chính trị có ý nghĩa định hướng trong toàn bộ quá trình xây dựng, bổ sung, phát triển đường lối của Đảng. Giá trị ấy được hình thành từ bản chất giai cấp công nhân, từ sứ mệnh lịch sử của Đảng đối với dân tộc và được bồi đắp trong tiến trình cách mạng Việt Nam như một chỉnh thể thống nhất của ba quá trình giải phóng: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Giá trị tự do gắn với độc lập dân tộc, với kỷ cương pháp luật, với trách nhiệm xã hội và với lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc. Chính vì vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ chính thể dân chủ cộng hòa cho đến cộng hòa xã hội chủ nghĩa ngày nay, “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” vẫn luôn là sự kết tinh cô đọng lý tưởng chính trị và mục tiêu phát triển của chế độ, thể hiện bước phát triển từ khát vọng tự do của dân tộc đến bảo đảm quyền tự do ngày càng đầy đủ hơn cho mỗi con người.

Trong công cuộc đổi mới, giá trị “tự do” tiếp tục được phát triển sâu sắc trong lý luận về đường lối đổi mới của Đảng, trước hết ở sự đổi mới tư duy về con người và phát triển con người. Con người vừa là trung tâm, chủ thể, nguồn lực chủ yếu, vừa là mục tiêu của phát triển. Trên cơ sở đó, tự do được đặt vào vị trí quan trọng và được coi là một điều kiện tiên quyết để khơi dậy sức sáng tạo xã hội, giải phóng sức sản xuất và phát huy mọi tiềm năng của đất nước. Việc bảo đảm các quyền con người, quyền công dân không chỉ được nhìn nhận từ phương diện pháp lý, mà còn gắn với yêu cầu tạo lập các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội để con người có năng lực thực tế thụ hưởng và thực thi các quyền tự do của mình. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng: từ chỗ nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, nghèo nàn, lạc hậu đến tạo dựng môi trường phát triển toàn diện cho con người trong điều kiện hòa bình, hội nhập và hiện đại hóa đất nước.

Cùng với việc khẳng định và thể chế hóa ngày càng đầy đủ hơn quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp và pháp luật, Đảng lãnh đạo xây dựng khung khổ pháp lý minh bạch, ổn định, an toàn để bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp, quyền tự do kinh doanh, quyền tiếp cận thông tin, quyền học tập, sáng tạo, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của nhân dân. Tự do, vì thế, không chỉ là tuyên ngôn chính trị, mà trở thành giá trị được bảo đảm bằng thể chế, bằng pháp luật và bằng năng lực tổ chức thực hiện của Nhà nước. Sự kết hợp giữa mở rộng không gian tự do với tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm công dân đã tạo nên nội hàm nhân văn và tiến bộ của giá trị này trong đời sống xã hội Việt Nam.

Trong lĩnh vực kinh tế, giá trị “tự do” được thể hiện sinh động qua bước chuyển lịch sử từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là quá trình mở rộng quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh; thừa nhận và phát triển đa dạng hình thức sở hữu, thành phần kinh tế, mô hình tổ chức kinh doanh và phương thức phân phối; tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp tác và phát triển. Từ đây, năng lực sáng tạo, tinh thần khởi nghiệp, ý chí làm giàu chính đáng và khát vọng cống hiến của người dân, doanh nghiệp được khơi dậy mạnh mẽ, trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước. Tự do trong lĩnh vực kinh tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, không tách rời định hướng xã hội chủ nghĩa, mà gắn với yêu cầu phát triển bao trùm, tiến bộ và công bằng xã hội, để thành quả phát triển phục vụ ngày càng tốt hơn đời sống nhân dân.

Trên phương diện văn hóa - xã hội, giá trị “tự do” còn được thể hiện ở việc không ngừng mở rộng cơ hội phát triển cho mọi người dân, chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện và tạo điều kiện để mỗi cá nhân đóng góp tài năng, trí tuệ cho xã hội, “phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước”(2). Quyền được học tập suốt đời, tiếp cận tri thức, thụ hưởng văn hóa, chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và công bằng xã hội, tiếp cận với các nguồn lực và dịch vụ xã hội để phát triển… ngày càng được coi trọng. Trong kỷ nguyên số, nội hàm của tự do tiếp tục được mở rộng thông qua quyền tiếp cận công nghệ, cơ hội tham gia kinh tế số, xã hội số và khả năng phát triển trong môi trường toàn cầu hóa. Điều đó cho thấy giá trị “tự do” luôn vận động và được chuyển hóa, cụ thể hóa cùng với sự phát triển của đất nước, được bổ sung nội dung mới phù hợp với yêu cầu của thời đại.

Uỷ viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng với học sinh Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Mường Khương, xã Mường Khương, tỉnh Lào Cai_Ảnh: TTXVN

Giá trị chính trị “đại đoàn kết” trong đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế

Giá trị chính trị “đại đoàn kết” là sự phản ánh sâu sắc bản chất cầm quyền vì nhân dân, vì dân tộc của Đảng, được kết tinh từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống cố kết cộng đồng, tinh thần yêu nước, nhân nghĩa và ý chí vượt khó của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử. Qua 40 năm đổi mới, đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong hệ thống chính trị, đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế ngày càng được mở rộng và củng cố, tăng cường. Trong đó, đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng đoàn kết trong hệ thống chính trị, đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế(3). Đây cũng là mục tiêu chính trị lâu dài, phương thức để Đảng tập hợp, huy động sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đại đoàn kết không phải là sự đồng nhất máy móc hay sự thỏa hiệp vô nguyên tắc, mà là sự thống nhất trong đa dạng, được xây dựng trên cơ sở tôn trọng sự khác biệt chính đáng, hài hòa lợi ích và hướng tới những giá trị chung cao nhất của quốc gia - dân tộc. Trong lý luận về đường lối đổi mới của Đảng, giá trị chính trị “đại đoàn kết” được thể hiện trước hết ở việc Đảng luôn giữ vững nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong tổ chức và hoạt động, coi trọng việc “giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(4); thực hành dân chủ rộng rãi, thực chất, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất.

Đảng không ngừng phát triển và hoàn thiện đường lối chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, Đảng mở rộng cơ sở xã hội của khối đại đoàn kết bằng việc chăm lo lợi ích chính đáng của các giai cấp, tầng lớp xã hội, cộng đồng dân cư; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong tập hợp, vận động, đoàn kết nhân dân. Việc xây dựng “thế trận lòng dân”, củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng cống hiến của mỗi người dân đã trở thành nguồn lực xã hội to lớn cho công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.

Giá trị chính trị “đại đoàn kết” còn được thể hiện ở tầm nhìn rộng mở của Đảng về đoàn kết dân tộc và hòa hợp xã hội trong điều kiện đất nước phát triển và hội nhập quốc tế. Các chủ trương, chính sách về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như chính sách đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã góp phần gắn kết cộng đồng, tăng cường sự đồng thuận xã hội và củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc trong mọi hoàn cảnh. Trên phương diện đối ngoại, đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển cũng là biểu hiện sinh động của tư tưởng đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại vì lợi ích quốc gia - dân tộc và vì những giá trị tiến bộ chung của nhân loại.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu: “Thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng của khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích; bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, giai cấp, tầng lớp xã hội và mỗi người dân trong tiếp cận cơ hội và thụ hưởng thành quả phát triển; nêu cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, cộng đồng với quốc gia - dân tộc”(5). Điều đó cho thấy, giá trị chính trị “đại đoàn kết” đã và đang được Đảng bổ sung nội hàm mới, gắn trực tiếp với khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy cao nhất ý chí, trí tuệ và sức sáng tạo của toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới, là động lực to lớn, sức mạnh vô địch để xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Giá trị chính trị “dân chủ xã hội chủ nghĩa” trong hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân

Giá trị chính trị “dân chủ xã hội chủ nghĩa” phản ánh bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa và mục tiêu cầm quyền vì nhân dân của Đảng. Giá trị này được xác lập từ bản chất giai cấp công nhân của Đảng, từ lý tưởng giải phóng con người của chủ nghĩa xã hội và được vận hành trong cấu trúc quyền lực đặc trưng của hệ thống chính trị nước ta: Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - nhân dân làm chủ. Trong đó, dân chủ không chỉ là một nguyên tắc tổ chức quyền lực, mà còn là mục tiêu phát triển, là động lực đổi mới và là thước đo quan trọng của tính chính danh, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Trải qua 40 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới, nhận thức lý luận của Đảng về dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện. Đảng từng bước khẳng định thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị, là mục tiêu, động lực của công cuộc đổi mới(6), là điều kiện để khơi dậy sức dân, phát huy trí tuệ, trách nhiệm và sự tham gia chủ động của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ nhận thức đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm tạo nền tảng chính trị và pháp lý ngày càng đầy đủ hơn để tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Biểu hiện tập trung của giá trị “dân chủ xã hội chủ nghĩa” là quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Theo đó, dân chủ không dừng lại ở phương diện tuyên ngôn chính trị, mà được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật và các thiết chế nhà nước để bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vừa là công cụ tổ chức thực thi quyền lực của nhân dân, vừa là cơ chế kiểm soát quyền lực, bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Trong mô hình đó, pháp luật trở thành sự thể chế hóa ý chí, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, là chuẩn mực chung để điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi đúng mục đích, đúng giới hạn, không bị tha hóa.

Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa còn luôn gắn liền với tăng cường pháp chế, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao trách nhiệm công dân. Theo đó, phải đi đôi với tăng cường trách nhiệm, trật tự, kỷ cương xã hội; tăng cường đồng thuận xã hội gắn với đề cao ý thức trách nhiệm của công dân; xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, xâm phạm quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của tổ chức, cá nhân(7).

Đảng luôn chú trọng hoàn thiện và phát huy vai trò của các thiết chế dân chủ đại diện, đặc biệt là Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp - những cơ quan dân cử trực tiếp, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Đồng thời, các hình thức dân chủ trực tiếp ngày càng được mở rộng thông qua cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện xã hội, giám sát của nhân dân và cộng đồng. Việc từng bước hoàn thiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về dân chủ: từ bảo đảm quyền tham gia của nhân dân trong quá trình quản lý xã hội đến nhấn mạnh quyền giám sát quyền lực và quyền được thụ hưởng thành quả phát triển. Điều đó cho thấy, dân chủ không chỉ được đánh giá ở quy trình thực hiện, mà còn được đo bằng những lợi ích thiết thực, mức độ hài lòng và hạnh phúc mà nhân dân nhận được trong thực tiễn.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội(8)… Đây là sự phát triển mới về nhận thức và hành động, cho thấy giá trị chính trị “dân chủ xã hội chủ nghĩa” đang tiếp tục được làm sâu sắc cả về lý luận lẫn thực tiễn. Khi được thẩm thấu và chuyển hóa trong toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị, giá trị ấy sẽ tiếp tục trở thành nguồn lực quan trọng để củng cố đồng thuận xã hội, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu xây dựng đất nước phát triển bền vững và vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Giá trị chính trị “cách mạng, khoa học” trong phương pháp tư duy, nhận thức lý luận và năng lực điều chỉnh đường lối phù hợp với thực tiễn phát triển

Giá trị chính trị “cách mạng, khoa học” là sự phản ánh bản chất tiên phong, bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng. Đây không chỉ là phẩm chất chính trị của một đảng cách mạng chân chính, mà còn là nguyên tắc phương pháp luận chi phối toàn bộ quá trình nhận thức, xây dựng, bổ sung, phát triển và tổ chức thực hiện đường lối của Đảng. Giá trị này bắt nguồn từ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh - một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng, luôn mở ra khả năng phát triển kịp với sự vận động của thực tiễn, đồng thời soi đường, dẫn dắt thực tiễn phát triển đúng hướng và mau lẹ, chứ không phải là những khuôn mẫu giáo điều bất biến. Ph. Ăng-ghen từng khẳng định, “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”(9). V.I. Lê-nin cũng nhiều lần nhấn mạnh rằng, học thuyết Mác chỉ đặt nền móng cho một khoa học cần tiếp tục được phát triển trong thực tiễn lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn quán triệt tinh thần cách mạng và khoa học đó trong vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Trong lý luận về đường lối đổi mới của Đảng, giá trị “cách mạng” được thể hiện trước hết ở bước ngoặt lịch sử của Đại hội VI, khi Đảng dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật; kiên quyết khắc phục tư duy bảo thủ, trì trệ, những rào cản của cơ chế cũ để khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước. Đây là cuộc cách mạng trong tư duy phát triển, trong phương thức lãnh đạo và trong nhận thức lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Đảng. Từ đó đến nay, tinh thần cách mạng luôn được thể hiện ở việc Đảng không ngừng tháo gỡ các “điểm nghẽn” thể chế, giải phóng lực lượng sản xuất, khơi dậy mọi nguồn lực xã hội, mở ra không gian phát triển mới cho đất nước trong từng giai đoạn lịch sử…

Giá trị chính trị “khoa học” được biểu hiện tập trung ở phương pháp xây dựng, hoạch định đường lối, phát triển lý luận của Đảng. Đường lối đổi mới không xuất phát từ ý chí chủ quan, càng không phải là sự sao chép một cách máy móc mô hình bên ngoài, mà là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn sâu sắc, nghiên cứu lý luận nghiêm túc và nhận thức lý luận ngày càng đầy đủ, sáng rõ hơn về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước và bối cảnh quốc tế biến đổi không ngừng.

Qua 40 năm đổi mới, nhận thức lý luận của Đảng đã có bước phát triển quan trọng, ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn. Điều này được thể hiện ở việc Đảng từng bước làm sáng tỏ mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa xã hội Việt Nam, đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa, các trụ cột của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, xác định những phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, các mối quan hệ lớn và lộ trình phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ. Đồng thời, trong từng lĩnh vực cụ thể, Đảng đã hình thành nhiều quan điểm lý luận có giá trị định hướng chiến lược, như phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực và sức mạnh nội sinh của phát triển; phát triển toàn diện tư duy bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới; xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại… Những thành tựu đó phản ánh năng lực tư duy biện chứng, tầm nhìn chiến lược và khả năng sáng tạo lý luận của Đảng trong điều kiện phát triển mới.

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và cạnh tranh chiến lược toàn cầu ngày càng gay gắt, giá trị “cách mạng, khoa học” tiếp tục được phát triển thông qua việc Đảng xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu của mô hình tăng trưởng mới. Điều đó cho thấy khoa học, công nghệ ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, nền tảng của năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và khả năng phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong tương lai.

Một biểu hiện đặc sắc khác của giá trị chính trị “cách mạng, khoa học” là năng lực tự hoàn thiện, tự đổi mới và tự chỉnh đốn của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(10). Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, Đảng không né tránh mà luôn chủ động nhận diện, thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém, khiếm khuyết của mình, cũng như những hiện tượng tiêu cực nảy sinh trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, như suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm”… Đồng thời, Đảng ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết và tổ chức thực hiện quyết liệt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Đây chính là minh chứng sinh động cho sự thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học trong hoạt động của Đảng.

Có thể thấy, các giá trị chính trị cốt lõi của Đảng được hun đúc qua thực tiễn 40 năm đổi mới không chỉ lý giải sức sống của đường lối đổi mới, mà còn định hướng tương lai phát triển của đất nước. Vì vậy, việc tiếp tục nhận thức sâu sắc, phát triển sáng tạo và hiện thực hóa có hiệu quả các giá trị này chính là cơ sở để nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng, phát huy tối đa sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong thời gian tới, dự báo hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn trên thế giới, song đứng trước nhiều thách thức mới. Các nước lớn và các trung tâm quyền lực tiếp tục điều chỉnh chiến lược, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, thỏa hiệp, song cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt hơn. Xung đột, chiến tranh, chạy đua vũ trang công nghệ cao diễn ra ở nhiều khu vực, nguy hiểm hơn, không loại trừ nguy cơ chiến tranh lớn(11). Những biến động đó làm gia tăng tính bất định của tình hình thế giới, tác động trực tiếp đến môi trường an ninh, không gian phát triển và dư địa chính sách của mọi quốc gia, nhất là các nước đang phát triển có năng lực chống chịu và khả năng thích ứng chiến lược còn hạn chế. Trong bối cảnh đó, việc phát huy các giá trị chính trị cốt lõi của một chính đảng cầm quyền càng có ý nghĩa quan trọng để giữ vững định hướng phát triển, duy trì ổn định chính trị - xã hội và tạo sức mạnh tinh thần giúp quốc gia vượt qua thách thức, nắm bắt thời cơ mới.

Ở trong nước, sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước đang mở ra cơ hội lịch sử để Việt Nam phát triển bứt phá trong kỷ nguyên mới. Tuy nhiên, cơ hội lớn luôn đi liền với yêu cầu phát triển cao hơn và những thách thức gay gắt hơn. Nguy cơ tụt hậu vẫn là nguy cơ bao trùm; phát triển kinh tế - xã hội chưa bền vững; tư duy phát triển và tốc độ hoàn thiện thể chế có mặt chưa theo kịp những chuyển động nhanh của thế giới… Cùng với đó, nhiều thách thức từ nội tại vẫn đang hiện hữu, như quá trình già hóa dân số, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh; yêu cầu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm an ninh phi truyền thống; cũng như những đòi hỏi ngày càng cao về dân chủ, công bằng, chất lượng sống và hiệu quả quản trị quốc gia.

Trước những yêu cầu đang đặt ra, việc tiếp tục bồi đắp, phát huy và chuyển hóa các giá trị chính trị cốt lõi của Đảng thành năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và hiệu quả tổ chức thực tiễn mang ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng. Đây cũng là con đường để Đảng tiếp tục hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không ngừng đổi mới tư duy phát triển phù hợp với thời đại. Khi các giá trị như “độc lập, tự chủ”; “tự do”; “đại đoàn kết”; “dân chủ xã hội chủ nghĩa”; “cách mạng, khoa học”… được thẩm thấu, lan tỏa, hiện thực hóa sâu rộng trong đời sống chính trị - xã hội, sẽ trở thành nguồn lực nội sinh to lớn, củng cố niềm tin xã hội và mở ra động lực mới cho sự phát triển của đất nước./.

 

TS Lê Khánh Ly

Nguồn: Tạp chí Cộng sản

-------------------

(1) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 76
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 55
(3) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 104
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 15, tr. 622
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 122
(6) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 102 - 103
(7) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 122
(8) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 121
(9) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1999, t. 36, tr. 796
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 301
(11) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 77


Tin liên quan
Hỏi đáp về Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, Lần thứ I, Nhiệm kỳ 2025 - 2030