ĐƯA MẠCH NGUỒN DI SẢN TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC BỨT PHÁ

11/09/2026
207

Tuyên Quang – vùng đất căn cứ cách mạng, Thủ đô Khu giải phóng, Thủ đô Kháng chiến, đồng thời là địa bàn biên giới, phên dậu giữ vị trí chiến lược quan trọng của Tổ quốc – đang bước vào giai đoạn chuyển dịch mô hình phát triển. Không dừng lại ở việc bảo tồn di sản theo phương thức tĩnh, mang tính thụ động, Tỉnh ủy, chính quyền và Nhân dân các dân tộc Tuyên Quang đang chủ động khơi thông nguồn lực lịch sử – văn hóa, biến kho tàng di sản thành đòn bẩy tăng trưởng thực chất thông qua phát triển kinh tế sáng tạo và công nghiệp văn hóa.

Định hướng đường lối, chính sách và mục tiêu cụ thể

Nhận thức sâu sắc văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là động lực phát triển kinh tế – xã hội, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Chương trình hành động số 60-CTr/TU thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Quyết tâm đó được cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 84-NQ/TU của Tỉnh ủy về “Xây dựng và phát triển con người Tuyên Quang toàn diện về đạo đức, nhân cách, trí tuệ, thể lực, thẩm mỹ đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, giai đoạn 2026–2030”. Trọng tâm định hướng của Tỉnh ủy là chuyển đổi tư duy và hành động từ “bảo tồn tĩnh” sang “bảo tồn động”, lấy di sản làm chất liệu sáng tạo, lấy kinh tế văn hóa làm động lực tăng trưởng.

Cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã khẩn trương ban hành Kế hoạch triển khai phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, kết hợp với Đề án “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2035”. Tỉnh đặt mục tiêu định lượng cụ thể: Phấn đấu đến năm 2030, doanh thu từ các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 5% GRDP của tỉnh và vươn tới mốc 8% vào năm 2045. Đồng thời, quy hoạch không gian phát triển văn hóa của tỉnh tập trung vào 3 không gian sáng tạo cốt lõi:

Không gian văn hóa – lịch sử cách mạng Tân Trào: Đánh thức giá trị Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào bằng công nghệ thực cảnh, bảo tàng ảo, công nghệ thực tế ảo; đưa Tân Trào trở thành trung tâm giáo dục truyền thống kết hợp du lịch trải nghiệm về nguồn.

Không gian nghệ thuật – đô thị Lễ hội Thành Tuyên: Nâng tầm Lễ hội Thành Tuyên từ một sinh hoạt dân gian lên tầm vóc quốc tế, kết hợp không gian sáng tạo nhạc nước hồ Tân Quang, phường Minh Xuân và phát triển kinh tế đêm.

Lễ hội Thành Tuyên diễn ra vào dịp Trung thu hằng năm.

Không gian văn hóa vùng cao gắn với liên kết di sản: Khai thác nét văn hóa độc đáo của đồng bào các dân tộc thiểu số, kết nối tuyến du lịch di sản với Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn, mở ra hành lang du lịch trải nghiệm sinh thái – địa chất – văn hóa quy mô liên vùng, liên tỉnh.

Chuyển động sáng tạo từ thực tiễn cơ sở

Sự đúng đắn của chủ trương, chính sách được minh chứng bằng những mô hình sản xuất và sinh hoạt văn hóa cụ thể tại từng địa phương.

Tại xã Lũng Cú, Đảng ủy xã ban hành Chương trình hành động về phát triển Làng Văn hóa du lịch cộng đồng thôn Lô Lô Chải theo hướng “xanh – bản sắc – an toàn – bền vững” giai đoạn 2026–2030, gắn với tạo việc làm tại chỗ. Chính quyền xã phối hợp với các cơ quan chuyên môn tổ chức đào tạo kỹ năng làm du lịch cộng đồng (homestay).

Đồng chí Dương Ngọc Đức, Bí thư Đảng ủy xã Lũng Cú, cho biết: “Quan điểm của địa phương là người dân phải được thụ hưởng trực tiếp từ di sản. Khi bà con đón khách tại nhà, phục vụ ẩm thực bản địa và biểu diễn văn nghệ truyền thống, thu nhập ổn định từ du lịch sẽ giúp người dân nâng cao ý thức giữ gìn văn hóa truyền thống, bảo vệ cảnh quan sinh thái”.

Mô hình làm đèn Trung thu khổng lồ, vốn là hoạt động giải trí tự phát của người dân các tổ dân phố, đã được định hình lại theo tư duy kinh tế sáng tạo. Chính quyền địa phương hướng dẫn, hỗ trợ thành lập các cơ sở chế tác, kết nối thị trường tiêu thụ và đưa hoạt động này vào chuỗi dịch vụ kinh tế đêm.

Nghệ nhân Nguyễn Cường, phường Minh Xuân, chia sẻ: “Trước đây, làm mô hình đèn chỉ phục vụ đêm rằm rồi bỏ. Nay được định hướng phát triển công nghiệp văn hóa, chúng tôi được hướng dẫn đăng ký thành lập cơ sở sản xuất, nhận thiết kế, thi công mô hình đèn phục vụ các sự kiện, lễ hội của nhiều địa phương trên cả nước. Việc chuyển từ làm tự phát sang sản xuất có kế hoạch giúp tạo việc làm thường xuyên cho đội ngũ thợ cơ khí, mỹ thuật tại địa phương, đưa doanh thu từ dịch vụ chế tác tăng rõ rệt”.

Trong không gian liên kết với Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn, việc khai thác tài nguyên văn hóa và tự nhiên được triển khai đa dạng, đồng bộ, thu hút khách du lịch đến với Tuyên Quang ngày càng đông. Hoạt động trồng hoa tam giác mạch của đồng bào các dân tộc không dừng lại ở quy mô nhỏ lẻ. Người dân chủ động quy hoạch các đồng hoa trên nương rẫy, ven quốc lộ, biến cây hoa từ một loại lương thực phụ thành sản phẩm du lịch chủ đạo. Khách du lịch đến với Lễ hội hoa tam giác mạch không chỉ ngắm cảnh mà còn trực tiếp chi trả phí dịch vụ chụp ảnh, mua các sản phẩm chế biến từ hạt tam giác mạch như bánh, trà, rượu tam giác mạch, tạo nguồn thu trực tiếp cho các hộ nông dân. Các sinh hoạt văn hóa dân gian, chợ phiên vùng cao được bảo tồn nguyên bản, trở thành sản phẩm du lịch trải nghiệm thu hút du khách. Tỉnh tập trung chuẩn hóa các sản phẩm đặc trưng gắn với chỉ dẫn địa lý.

Hoa tam giác mạch thu hút khách du lịch đến Tuyên Quang.

Chuỗi giá trị OCOP của vùng di sản được cụ thể hóa bằng các sản phẩm đặc trưng gắn với chỉ dẫn địa lý như: chè Shan tuyết cổ thụ được thu hoạch từ những cây chè hàng trăm năm tuổi, chế biến theo phương pháp thủ công kết hợp công nghệ hiện đại; thịt lợn đen gác bếp, lạp xưởng hun khói sử dụng gia vị bản địa như hạt dổi, mắc khén và phương pháp bảo quản truyền thống của đồng bào Tày, Nùng, Mông.

Sản phẩm tiêu biểu của tỉnh.

Tại hợp tác xã dệt thổ cẩm lanh ở xã Lùng Tám, quy trình sản xuất, dệt lanh thủ công, từ tước sợi, lăn đá đến nhuộm chàm, được giữ nguyên bản nhưng thiết kế sản phẩm đã được cải tiến.

Chị Ma Thị Hoa, thợ dệt tại Hợp tác xã Lùng Tám, chia sẻ: “Nhờ sự hỗ trợ về thiết kế và kết nối thị trường, chúng tôi đưa hoa văn dệt lanh truyền thống của người Mông lên các sản phẩm có tính ứng dụng cao như ví, túi xách, khăn quàng, vỏ gối, vỏ bọc sofa, đồ trang trí nội thất. Sản phẩm vừa giữ được hồn cốt văn hóa dân tộc, vừa đáp ứng tiêu chuẩn của khách du lịch quốc tế và các đơn hàng xuất khẩu, giúp chị em phụ nữ trong bản có thu nhập từ 4–7 triệu đồng/tháng”.

Những chỉ số đánh giá và bài học thực tiễn

Sự kết hợp giữa chính sách của cấp ủy và tính chủ động của người dân đã mang lại những kết quả đo lường được. Tiến độ số hóa 100% di sản văn hóa phi vật thể quốc gia trên địa bàn đang được đẩy nhanh, phục vụ việc lưu trữ dữ liệu và tra cứu công cộng. Lễ hội Thành Tuyên cùng chuỗi sự kiện văn hóa liên kết vùng thu hút hàng triệu lượt khách mỗi năm, tạo dòng tiền lưu thông trực tiếp vào hệ thống nhà hàng, khách sạn, vận tải và bán lẻ tại địa phương. Hàng trăm mô hình homestay và hợp tác xã dịch vụ văn hóa ra đời, tạo việc làm tại chỗ cho lao động là người dân tộc thiểu số.

Khơi thông nguồn lực, tạo đòn bẩy phát triển bền vững

Thực tiễn tại Tuyên Quang cho thấy, phát triển công nghiệp văn hóa không hề làm mất đi bản sắc mà chính là giải pháp căn cơ nhất để bảo tồn di sản trong giai đoạn hiện nay. Khi di sản được đưa vào dòng chảy đời sống kinh tế – xã hội, trực tiếp tạo ra thu nhập và việc làm, người dân sẽ tự giác giữ gìn di sản mà không cần đến những mệnh lệnh hành chính thuần túy.

Chìa khóa cho sự bứt phá này bắt đầu từ sự đổi mới tư duy của cấp ủy, chính quyền: chuyển mạnh từ “bảo tồn tĩnh” sang “khai thác động” để mở đường cho các nguồn lực xã hội. Quan trọng hơn, tỉnh đã đặt người dân vào đúng vị trí trung tâm của chuỗi giá trị. Khi bài toán sinh kế tại chỗ được giải quyết, người dân không chỉ là chủ thể giữ gìn bản sắc mà còn trực tiếp tham gia sản xuất, cung ứng dịch vụ và thụ hưởng lợi ích kinh tế. Cùng với đó, việc tạo dựng cơ chế hợp tác chặt chẽ giữa Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp kết nối thị trường và người dân sáng tạo đã tạo nên một hệ sinh thái văn hóa vận hành hiệu quả.

Khơi thông mạch nguồn di sản được kỳ vọng không chỉ giúp Tuyên Quang giải quyết bài toán tăng trưởng kinh tế trước mắt mà quan trọng hơn, còn tạo ra hướng đi căn cơ, giúp vùng đất giàu truyền thống cách mạng tự tin bứt phá bằng chính nguồn lực nội sinh của mình.

Hoàng Quyên


Hỏi đáp về Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, Lần thứ I, Nhiệm kỳ 2025 - 2030