Bước đầu tiếp cận tiêu chí kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

29/07/2026
159

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu chiến lược đưa đất nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Điều này đặt ra một câu hỏi lý luận mang tính thời đại rằng, trạng thái "kết thúc thời kỳ quá độ" của Việt Nam sẽ được định hình như thế nào trong bước chuyển về chất, từ một quốc gia đang phát triển trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc luận giải tường minh bước đầu hệ tiêu chí khoa học cho bước chuyển lịch sử này không chỉ là nhiệm vụ lý luận cấp bách, mà còn khẳng định tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, góp phần phác thảo nên diện mạo hiện thực của đất nước tại cột mốc lịch sử này, đồng thời mở ra tầm nhìn chiến lược cho kỷ nguyên mới của dân tộc trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển bền vững.

Tổng Bí thư Tô Lâm dự Lễ khánh thành Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Si Pa Phìn, tỉnh Điện Biên, ngày 31-1-2026_Ảnh: TTXVN

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là phạm trù trung tâm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, chỉ giai đoạn lịch sử tất yếu mà một quốc gia phải trải qua khi chuyển từ xã hội cũ sang chế độ xã hội chủ nghĩa. Ở Việt Nam, tiến trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp cách mạng lâu dài và vĩ đại, được bắt đầu từ năm 1954 khi miền Bắc được giải phóng đi lên chủ nghĩa xã hội, đến năm 1975 khi cả nước thống nhất, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội và tạo bước đột phá căn bản, mang tính quy luật thông qua công cuộc đổi mới năm 1986. Những thành tựu to lớn, có tính lịch sử của 40 năm đổi mới góp phần làm sáng tỏ lý luận về chủ nghĩa xã hội ở nước ta, định hình ngày càng rõ nét qua từng kỳ đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) xác định: “Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường. Mục tiêu của chặng đường đầu là thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau”(1). Đại hội XIV của Đảng chính là "dấu mốc mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước trong bối cảnh, cục diện và mục tiêu mới". Đây là Đại hội có ý nghĩa đặc biệt, vạch ra lộ trình để Việt Nam hoàn thành mục tiêu 100 năm thành lập nước (1945 - 2045), dấu mốc cũng được xác định gắn liền với việc chúng ta về cơ bản kết thúc thời kỳ quá độ.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, mục tiêu đến năm 2045 khi đất nước trở thành nước phát triển, người dân có thu nhập cao, đó là thời điểm kết thúc thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội... Theo lý luận của Mác, quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội cần trải qua giai đoạn tích lũy, hình thành nền tảng phát triển..., và nếu đạt mục tiêu vào năm 2045 thì có thể vượt qua thời kỳ quá độ (2).

Kết thúc thời kỳ quá độ là nấc thang chuyển đổi về chất, đánh dấu sự hoàn thành của chặng đường cuối thời kỳ quá độ, để chính thức bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc đáp ứng hệ tiêu chí cốt lõi vào năm 2045 không khép lại tiến trình phát triển, mà chính là đặt nền móng vật chất - kỹ thuật, chính trị và xã hội vững chắc để đất nước chính thức bước vào giai đoạn phát triển tự giác, hiện thực hóa một xã hội xã hội chủ nghĩa phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lê-nin về thời kỳ quá độ 

Theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, thời kỳ quá độ là giai đoạn tồn tại đan xen giữa những yếu tố cũ chưa mất đi và yếu tố mới chưa hoàn thiện. Đặc điểm nổi bật là: Lực lượng sản xuất chưa đủ cao để thay thế hoàn toàn quan hệ sản xuất tư bản; nhà nước vẫn mang tính chuyên chính cách mạng; ý thức hệ còn tồn tại những di sản của xã hội cũ. Thời kỳ quá độ kết thúc khi những mâu thuẫn căn bản đó được giải quyết về cơ bản. C. Mác, Ph. Ăng-ghen chỉ rõ: “giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”(3). Gắn với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, V.I. Lê-nin chỉ rõ thời kỳ quá độ chính là giai đoạn đầu trong ba giai đoạn hình thành và phát triển của chủ nghĩa cộng sản: Giai đoạn 1 - “Những cơn đau đẻ kéo dài”, Giai đoạn 2 - “Giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa”, Giai đoạn 3 - “Giai đoạn cao của xã hội xã hội chủ nghĩa”(4). Như vậy, tiêu chí kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không được xác định bằng mốc thời gian cố định, mà bằng sự hoàn thành về chất của những điều kiện kinh tế - xã hội mới. Khi lực lượng sản xuất phát triển cao, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được xác lập vững chắc và phù hợp, thì cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội mới thực sự hình thành. Đồng thời, chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu giữ vai trò chi phối, cùng với sự phát triển của nền kinh tế hiện đại, có tổ chức và hiệu quả. Về chính trị - xã hội, nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân được củng cố, dân chủ xã hội chủ nghĩa được mở rộng và trở thành nền tảng. Khi những yếu tố đó vận hành ổn định, tạo nên một chỉnh thể phát triển tự giác, bền vững, thì có thể coi thời kỳ quá độ cơ bản kết thúc.

Vận dụng, phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam được thể hiện trước hết ở mục tiêu vì con người, bảo đảm đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần được xóa bỏ… Tóm lại, xã hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”(5). Đó phải là một xã hội do nhân dân làm chủ, quyền lực thuộc về nhân dân và được thực hiện thông qua dân chủ rộng rãi. Về kinh tế, chủ nghĩa xã hội phải có nền sản xuất phát triển cao, công - nông nghiệp hiện đại, không còn áp bức bóc lột. Về xã hội, hướng tới công bằng, bình đẳng, đoàn kết giữa các giai cấp và dân tộc, con người được phát triển toàn diện. Đồng thời, đây còn là một xã hội có đời sống văn hóa phong phú, đạo đức lành mạnh, nơi các giá trị nhân văn được đề cao và trở thành nền tảng tinh thần vững chắc.

 Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định rõ con đường phát triển của đất nước, nhận thức rõ về nội dung bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ: “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”(6).

Qua các giai đoạn lãnh đạo đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta từng bước xác định được rõ đặc trưng chủ nghĩa xã hội của nước ta. Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011 khẳng định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(7). Chính mô hình chủ nghĩa xã hội mà nước ta xây dựng chỉnh thể bao hàm 8 đặc trưng cốt lõi từ mục tiêu tổng quát, cơ sở kinh tế - chính trị, cho đến các quan hệ xã hội đối nội - đối ngoại bền vững… đã tạo nền tảng lý luận quan trọng, vững chắc để Đại hội XIV kế thừa và cụ thể hóa thành hệ mục tiêu đến năm 2045. Đây có thể coi là thời điểm kết thúc thời kỳ quá độ của nước ta, với sự đáp ứng được các tiêu chí trên các lĩnh vực trọng yếu.

Các tiêu chí kết thúc thời kỳ quá độ ở Việt Nam

Đại hội XIV xác định "hai mục tiêu 100 năm” có ý nghĩa lịch sử trọng đại: 100 năm thành lập Đảng (1930 - 2030) và 100 năm thành lập nước (1945 - 2045). Với mốc 2045, mục tiêu được Văn kiện ghi rõ: “Hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao, là một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(8)Đây là mục tiêu tổng thể mang tính lịch sử; là sự tổng hòa biện chứng giữa sức mạnh kinh tế (nước phát triển, thu nhập cao), hệ thống chính trị (xã hội chủ nghĩa, pháp quyền), thước đo chất lượng sống, sự hài lòng của nhân dân và sức mạnh quốc gia (hòa bình, độc lập, dân chủ, văn minh, hạnh phúc). Điều này cho thấy tư duy phát triển của Đảng đã vượt qua ranh giới của các chỉ số tăng trưởng kinh tế thuần túy để hướng đến một hình thái xã hội hiện thực phát triển bền vững, mà thay vào đó là sự thể hiện của một hình hài xã hội đã hoàn thành sau khi cơ bản kết thúc thời kỳ quá độ. Cụ thể là:

Tiêu chí về kinh tế: Nước phát triển, thu nhập cao.

Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với việc cơ cấu lại nền kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới(9). GDP bình quân đầu người đạt ngưỡng nước thu nhập cao. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu trung gian, đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD/người/năm, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao (vượt ngưỡng 13.000 USD theo chuẩn WB) không đơn thuần là sự tích lũy cơ học về mặt lượng của nền kinh tế. Điểm khác biệt cốt lõi mang bản chất xã hội chủ nghĩa giữa một nước Việt Nam thu nhập cao với các quốc gia tư bản phát triển chính là phương thức phân phối và mục đích của sự phát triển. Thu nhập cao của Việt Nam vào năm 2045 được định hình dựa trên một lực lượng sản xuất hiện đại với kinh tế số đóng vai trò động lực cốt lõi (chiếm trên 30% GDP), vận hành trong một quan hệ sản xuất tiến bộ, nơi kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt. Do đó, sự bứt phá về quy mô kinh tế không dẫn đến sự phân cực giàu nghèo hay khủng hoảng lưỡng cực, mà là cơ sở vật chất để tối ưu hóa an sinh xã hội, bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng trực tiếp và công bằng từ thành quả đổi mới.

Về cơ cấu sở hữu, nền kinh tế phải vận hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác, các lĩnh vực then chốt; kinh tế tư nhân lớn mạnh, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế tập thể được củng cố và phát triển phù hợp… Sự kết hợp hài hòa giữa các thành phần kinh tế tạo ra động lực phát triển, đồng thời phải bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế. Hệ thống hạ tầng chiến lược phải được hoàn thiện đồng bộ, bao gồm hạ tầng giao thông, năng lượng và hạ tầng số. Đây là điều kiện vật chất quan trọng để kết nối nền kinh tế trong nước với thị trường toàn cầu, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và thúc đẩy phát triển bền vững.

Tiêu chí về chính trị: Đảng Cộng sản vững mạnh, “đạo đức, văn minh”; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; có nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Trước hết, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng được xây dựng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, đủ năng lực lãnh đạo toàn diện sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là nhân tố quyết định bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa và sự ổn định chính trị lâu dài sau khi đất nước kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Nhà nước phải vận hành theo nguyên tắc pháp quyền, quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, công khai và trách nhiệm giải trình. Quá trình số hóa quản lý nhà nước (chính phủ điện tử, chính phủ số…) cần được triển khai toàn diện, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị và phục vụ người dân. Cơ chế “xin - cho” phải được xóa bỏ triệt để, thay thế bằng cơ chế thị trường có sự quản lý hiệu quả của Nhà nước.

Dân chủ được phát huy cao độ, đồng thời kỷ luật, kỷ cương pháp luật phải được thực thi nghiêm minh. Cơ chế kiểm soát quyền lực cần được hoàn thiện, bảo đảm mọi quyền lực đều được kiểm soát chặt chẽ bằng pháp luật. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải đạt hiệu quả thực chất, tạo niềm tin vững chắc trong xã hội.

Tiêu chí về văn hóa - xã hội: Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam được xác lập và xây dựng đồng bộ; con người mới xã hội chủ nghĩa được hình thành(10). Quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống nhân dân

Nếu kinh tế là nền tảng, chính trị là trụ cột, thì văn hóa - xã hội là mục tiêu và động lực của phát triển. Đến năm 2045, Việt Nam phải xây dựng được một hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa hiện đại, văn minh, giàu bản sắc, đáp ứng yêu cầu của thời đại. Xét về mặt bản chất, đích đến của văn hóa - xã hội giai đoạn này là xây dựng hệ giá trị quốc gia đồng bộ, nhằm giải phóng và phát triển toàn diện con người Việt Nam mới cả về trí tuệ, đạo đức, thể chất, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, năng lực tự chủ, sáng tạo, các kỹ năng, hướng đến “phát triển toàn diện cả về trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ, năng lực sáng tạo, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật, gắn với gìn giữ, phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam”(11).

Thi công đường hầm Metro_Ảnh: tienphong.vn

Trong tiến trình chuyển trạng thái hình thái kinh tế - xã hội vào năm 2045, các chỉ số về an sinh xã hội đa tầng hay chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức cao cần được nhìn nhận dưới lăng kính của sự giải phóng toàn diện con người. Đây là bước chuyển từ việc giải quyết các bài toán sinh kế tối thiểu ở chặng đường đầu thời kỳ quá độ sang giai đoạn tự vững và phát triển toàn diện ở chặng đường cuối. Một xã hội kết thúc thời kỳ quá độ phải là nơi các dịch vụ cơ bản, như giáo dục chất lượng cao, y tế hiện đại và hạ tầng số trở thành quyền tiếp cận hiển nhiên của mọi thành viên, không bị chi phối bởi quy luật cung - cầu của thị trường. Sự thu hẹp căn bản khoảng cách giàu nghèo lúc này chính là thước đo định lượng cho tính ưu việt mang bản chất xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Đây cũng chính là minh chứng rõ nét nhất cho việc giải phóng sức lao động, biến con người từ công cụ tạo ra thặng dư kinh tế trở thành chủ thể thụ hưởng đích thực của chế độ.

Tiêu chí về quốc phòng - an ninh: Bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, nhân dân, đường lối đổi mới. giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, ổn định để phát triển đất nước(12).

Đến năm 2045, lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam phải được xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ khả năng, chủ động bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Đây là điều kiện tiên quyết để bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia trong mọi tình huống.An ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước… được bảo đảm. Trong đó, an ninh mạng và an ninh dữ liệu ngày càng trở thành yếu tố then chốt trong kỷ nguyên số. Bên cạnh đó, Việt Nam hoàn thành quá trình chuyển đổi xanh, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và các tiêu chuẩn phát triển bền vững toàn cầu. Đây không chỉ là yêu cầu môi trường, mà còn gắn trực tiếp với an ninh quốc gia và sự phát triển lâu dài.

Tiêu chí về đối nội: cộng đồng các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, cùng phát triển. Đồng bào các dân tộc phát huy được tính tự lực, tự cường trong phát triển, vươn lên(13).

Sự thành công của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam không thể tách rời sự phát triển đồng bộ của cộng đồng các dân tộc. Đến năm 2045, hệ tiêu chí về cộng đồng các dân tộc phải chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình hỗ trợ, thụ hưởng chính sách thụ động sang trạng thái bình đẳng thực chất và tự lực, tự cường. Bước chuyển về chất ở đây không chỉ là việc xóa nghèo đa chiều bền vững mà là sự xóa bỏ hoàn toàn nguy cơ phân hóa, chênh lệch kéo dài về trình độ phát triển giữa các vùng miền. Khi đồng bào các dân tộc thiểu số vươn lên trở thành chủ thể sáng tạo, làm chủ các phương thức sản xuất hiện đại và không gian số, khối đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ đạt tới độ chín tự giác.

Khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải được củng cố vững chắc trên cơ sở hài hòa lợi ích, tôn trọng sự đa dạng văn hóa và bảo đảm bình đẳng thực chất giữa các dân tộc. Các dân tộc bình đẳng về cơ hội phát triển, đặc biệt trong tiếp cận giáo dục, y tế, hạ tầng và các dịch vụ xã hội cơ bản. Khoảng cách phát triển giữa các vùng, các dân tộc phải được thu hẹp một cách căn bản, hướng tới xóa bỏ tình trạng chênh lệch kéo dài.

Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số phải được nâng cao rõ rệt, đạt mức tiệm cận với mặt bằng chung của cả nước. Xây dựng được một không gian phát triển thống nhất nhưng đa dạng, trong đó các dân tộc cùng tham gia vào quá trình phát triển chung của đất nước. Đồng bào các dân tộc thiểu số không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách, mà còn là chủ thể sáng tạo và đóng góp vào sự phát triển chung.

An ninh vùng dân tộc, tôn giáo phải được bảo đảm vững chắc, không để các vấn đề dân tộc, tôn giáo bị lợi dụng gây mất ổn định chính trị - xã hội.

Tiêu chí về đối ngoại: Việt Nam trở thành một quốc gia có uy tín, có trách nhiệm, đóng vai trò chủ động trong các cơ chế hợp tác và quản trị toàn cầu. Quan hệ đối ngoại được đưa vào chiều sâu, chất lượng được nâng cao, hội nhập quốc tế hiệu quả(14).

Về mặt lý luận, vị thế đối ngoại của một quốc gia xã hội chủ nghĩa bước vào giai đoạn kết thúc thời kỳ quá độ phải chuyển dịch mạnh mẽ từ lúc “tham gia” sang “tham gia chủ động và định hình luật chơi”, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, công nghệ và môi trường. Việt Nam tham gia sâu vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế. Điều này đòi hỏi sự kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ song hành cùng tư duy đa phương hóa một cách chủ động theo hướng “độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”(15). Đối ngoại phải được triển khai linh hoạt, sáng tạo, trên cơ sở kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Sự kết hợp hài hòa giữa hội nhập và tự chủ là yếu tố quyết định để nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt. Hệ thống tiêu chí cơ bản kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hướng tới mốc năm 2045 không phải là các mục tiêu kỹ thuật hay các chỉ số hành chính biệt lập, mà hợp thành một chỉnh thể biện chứng phản ánh toàn diện bước chuyển mình lịch sử về chất của tất cả các hình thái kinh tế - xã hội. Việc hoàn thành các tiêu chí này vào năm 2045 không đồng nghĩa với việc khép lại tiến trình phát triển, cũng không phải là điểm dừng tuyệt đối của sự sáng tạo. Ngược lại, cột mốc này chính là sự tích lũy đủ về lượng để tạo nên bước nhảy vọt vĩ đại, định hình một nền tảng vật chất - kỹ thuật, chính trị và tinh thần vững chắc để nước ta kết thúc thắng lợi chặng đường quá độ đầy cam go, chính thức bước vào giai đoạn đầu của một xã hội xã hội chủ nghĩa hiện thực phát triển cao. 

Trong kỷ nguyên mới của dân tộc, việc hiện thực hóa hệ tiêu chí này tại thời điểm kỷ niệm 100 năm thành lập nước sẽ là câu trả lời khẳng định tính đúng đắn, tính khoa học của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Đây không chỉ là thắng lợi mang tính lịch sử của riêng Việt Nam, mà còn là sự đóng góp quan trọng của nước ta vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về khả năng bứt phá, đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa của các quốc gia đang phát triển trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế toàn cầu hóa hiện đại.

 

TS Phạm Thị Hoàng Hà

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Nguồn: Tạp Chí Cộng sản

--------------------

(1) Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 318
(2) Anh Văn: Năm 2045 có thể kết thúc thời kỳ quá độ, tiến lên chủ nghĩa xã hội, Báo điện tử VTC News, Đài Tiếng nói Việt Nam, ngày 4-5-2026, https://vtcnews.vn/nam-2045-co-the-ket-thuc-thoi-ky-qua-do-tien-len-chu-nghia-xa-hoi-ar1016213.html
(3) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 19, tr. 47
(4) V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, t. 39, tr. 223
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 10, tr. 191
(6) Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 634
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,  2011, tr. 70
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 25
(9), (10), (11), (12), (14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 264, tr. 271, tr. 262, tr. 278, tr. 280
(13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 124
(15) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà
Nội, 2022, tr. 24


Hỏi đáp về Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, Lần thứ I, Nhiệm kỳ 2025 - 2030